Kỷ niệm 126 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh: Cuộc đời và sự nghiệp Cách Mạng của Bác Hồ kính yêu (Phần 1)

0

Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà lãnh tụ vĩ đại, anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới, người cha già kính yêu của toàn thể dân tộc Việt Nam. Người đã hiến dâng trọn cuộc đời mình vì sự nghiệp Cách mạng, cho Độc lập, Tự do và Hạnh phúc của nhân dân. Kỷ niệm 126 năm ngày sinh của Bác (19/05/1890 – 19/05/2016), Đoàn Thanh niên ĐH Ngoại Thương gửi đến bạn đọc loạt bài viết về “Cuộc đời và sự nghiệp của Bác Hồ kính yêu”. Hãy cùng chúng tôi nhìn lại những mốc son quan trọng trong cuộc đời và sự nghiệp của Bác – một cuộc đời nhiều thăng trầm, sóng gió; một sự nghiệp vẻ vang, lẫy lừng. Bác chính là tấm gương sáng để thế hệ trẻ ngày nay noi gương và học tập.

Trong phần 1 của loạt bài này, chúng tôi xin được giới thiệu về Quê hương, gia đình, thời niên thiếu của Bác và những hoạt động yêu nước đầu tiên (1890 – 1911)

  • Thời thơ ấu ở quê hương

 

Chủ tịch Hồ Chính Minh thời thơ ấu có tên là Nguyễn Sinh Cung, Bác sinh ngày 19/05/1890 tại Làng Hoàng Trù (quê ngoại của Bác), thuộc xã Chung Cự, tổng Lâm Thịnh, nay là xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

Phụ thân của Bác là ông Nguyễn Sinh Sắc (1862). Ông Nguyễn Sinh Sắc mồ côi cha mẹ từ nhỏ, phải chăn trâu cắt cỏ hàng ngày, cuộc sống gặp nhiều khó khăn, vất vả nhưng ông rất ham học và học rất giỏi. Trong xã có cụ Hoàng Xuân Đường hiểu rõ gia cảnh của cậu thiếu niên mồ côi, quý đức tính cần cù, ham học nên xin gia đình của ông Nguyễn Sinh Sắc cho nhận làm con nuôi, cho ăn học. Sau này lớn lên, ông Hoàng Xuân Đường đã gả con gái của mình là bà Hoàng Thị Loan cho ông Nguyễn Sinh Sắc, dựng cho hai vợ chồng một căn nhà nhỏ ba gian ở góc vườn. Ông Sắc vừa cùng vợ làm ruộng, vừa học tập, bà Loan có thêm nghề dệt vải để lo toan cho gia đình. Bà không chỉ là người phụ nữ đảm đang, lo cho gia đình mà còn là con người giàu tình thương.

Làng Hoàng Trù, xã Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ An

Làng Hoàng Trù, xã Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ An

Trong căn nhà ấm cúng đó, năm 1884, bà Hoàng Thị Loan sinh con gái đầu lòng là Nguyễn Thị Thanh, rồi năm 1888 sinh con trai cả là ông Nguyễn Sinh Khiêm. Bác Hồ kính yêu Nguyễn Sinh Cung là người con thứ ba. Những người con của hai ông bà đều chịu ảnh hưởng của ông bà, của cha mẹ, luôn chăm chỉ và rất thương người.

Năm 1894, ông Nguyễn Sinh Sắc đậu cử nhân kỳ thi Hương tại Nghệ An, đáp lại sự mong mỏi của cụ Hoàng Xuân Đường cùng gia đình.

Làng Hoàng Trù, xã Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ An

Làng Hoàng Trù, xã Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ An

  • Thời niên thiếu ở Kinh đô Huế

 

Năm 1895, sau khi đổ cử nhân, ông Nguyễn Sinh Sắc vào Huế thi Hội, nhưng năm đó ông không đỗ. Quyết chí học hành, ông ở lại Huế xin học trường Quốc Tử Giám, cách Huế 7km về phía Tây. Hồi đó, học sinh tỉnh xa vào học Quốc Tử Giám thường phải là con nhà khá giả, còn những người nghèo thường phải đưa cả gia đình theo để vừa học vừa kiếm sống. Cuối năm 1895, ông Sắc về làng đưa vợ và hai cậu con trai vào Huế.

Năm 1898, ông Sắc đi thi Hội lần thứ hai nhưng vẫn không đỗ. Cuộc sống gia đình ngày càng túng thiếu. Được một người quen giới thiệu, ông Sắc đi dạy học tại làng Dương Nỗ (nay là xã Phú Dương, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Chính tại đây, Nguyễn Sinh Cung (Bác Hồ) đã bắt đầu những bài học chữ Hán đầu tiên của mình. Với trí thông minh của mình, cậu bé chỉ cần đọc 3, 4 lần là thuộc.

Năm 1900, ông Nguyễn Sinh Sắc được cử đi coi thi ở trường thi hương Thanh Hóa. Theo ông có cậu cả Khiêm đi cùng để đỡ đần, còn Nguyễn Sinh Cùng ở lại Huế cùng mẹ.

Cuối năm 1900, bà Loan sinh người con thứ tư. Cha và anh đều đi vắng, Nguyễn Sinh Cung vừa tự học, vừa giúp mẹ chăm sóc em Nguyễn Sinh Xin. Nhưng do hoàn cảnh thiếu thốn, sức khỏe yếu, bé Xin qua đời sớm.

Cũng ngay sau đó, ngày 22 tháng Chạp năm Canh Tý (10/2/1901) bà Hoàng Thị Loan cũng lâm bệnh và đột ngột qua đời ở Huế.

Được tin vợ qua đời, ông Nguyễn Sinh Sắc vội trở về Huế, đưa con trở về quê Nghệ An.

Trong 5 năm sống ở chốn kinh thành, Nguyễn Sinh Cung đã đi, đã nghe và thấy được nhiều điều mới lạ.

  • Những trải nghiệm trưởng thành trên quê hương

 

Trở lại quê hương, ông Nguyễn Sinh Sắc thu xếp tạm ổn cuộc sống cho các con, nghe lời khích lệ của bà con trong họ, ngoài làng, ông lại tạm biệt quê hương, vào Huế dự kì thi hội năm Tân Sửu đời Thành Thái thứ 13 (tức năm 1901). Lần đi thi này ông mang tên mới là Nguyễn Sinh Huy. Ở lại quê hương Nguyễn Sinh Cung được bà ngoại gửi đi học chữ Hán.  Tại khoa thi năm đó ông Nguyễn Sinh Huy đỗ phó bảng. Mấy tháng sau theo tục lệ thời ấy, ông Nguyễn Sinh Huy đưa ba người con về sống ở Kim Liên, quê nội. Nguyễn Sinh Khiêm, Nguyễn Sinh Cung, thế hệ thứ mười hai kể từ khi dòng họ Nguyễn Sinh sống ở làng, được làm lễ vào làng với tên gọi mới là Nguyễn Tất Đạt và Nguyễn Tất Thành. Ông Nguyễn Sinh Huy quyết định gửi Nguyễn Tất Thành sang học với thầy Vương Thúc Quý đang mở lớp chữ Hán cho một số thiếu niên trong làng. Thầy Quý tuy đỗ cử nhân nhưng không ra làm quan. Ông muốn Nguyễn Tất Thành được học chữ của thầy, nhưng điều quan trọng hơn, đó là học lòng yêu nước thương dân của thầy Quý.

Nhà thầy Quý còn là nơi lui tới của các sĩ phu yêu nước trong vùng. Nhiều khi Nguyễn Tất Thành được thầy sai tiếp nước cho những vị khách đặc biệt ấy, nhờ đó cậu thiếu niên Tất Thành dần dần hiểu được thời cuộc và sự day dứt của các bậc cha chú trước cảnh nước mất nhà tan. Lớn dần lên, càng đi  vào cuộc sống của nhân dân, Nguyễn Tất Thành càng thấm thía thân phận cùng khổ của người dân mất nước. Thuế khóa vốn đã nặng nề lại còn thêm thủ đoạn ăn cuớp trắng trợn và dã man của bọn hào lý. Cùng với thuế khóa là nạn bắt phu đi xây dựng thị xã Vinh, phu đi mở mang hệ thống đường giao thông trong tỉnh để thực dân Pháp có điều kiện thuận lợi vơ vét tài nguyên và ở đâu có nổi dậy đấu tranh thì  nhanh chóng điều quân đi đàn áp. Tháng 9-1905, thực hiện Nghị định của Toàn quyền Đông Dương, loại trường Pháp – bản xứ (école franco-indigène) đuợc mở tại Vinh, tỉnh lỵ của Nghệ An, với lớp đầu tiên của bậc tiểu học, thường gọi là lớp nhất (curs préparatoire). Chương trình học nặng về tiếng Pháp, chỉ còn một số ít học chữ Hán. Nguyễn Tất Thành được phụ thân cho đi học ở Vinh Tại trường tiểu học Vinh, Nguyễn Tất Thành chú ý đến ba từ được sơn vào gỗ, gắn ở phía trên bảng đen “LIBERTé, éGALITé, FRATERNITé” (Tự do – Bình đẳng – Bác ái). Anh tìm hiểu và biết đó là khẩu hiệu nổi tiếng của đại cách mạng Pháp năm 1789. Đối với anh, đó là những điều hoàn toàn mới lạ, khác với những điều mà anh đã học trong sách vở thánh hiền…, vì vậy rất tự nhiên, anh nảy ra ý muốn “tìm hiểu những gì ẩn dấu trong những  từ ấy”. Nhưng chưa hết năm học khoảng cuối tháng 4-1906, anh Thành phải nghỉ học để chuẩn bị cùng cha lên đường vào Huế.

  • Hoạt động biểu tình chống thuế tại Huế

 

Vào Huế, cùng với anh, Nguyễn Tất Thành phải học lại lớp dự bị ở trường tiểu học Pháp – Việt Đông Ba, niên khóa 1906 – 1907 và tiếp theo đó học lớp sơ đẳng vào năm 1907 – 1908 với tên mới là Nguyễn Sinh Côn.

Triều đình nhà Nguyễn

Triều đình nhà Nguyễn

Tháng 4 – 1908, vào gần cuối năm lớp sơ đẳng của anh Thành, kinh đô Huế lại xôn xao, náo động về một sự kiện mới: bị mất mùa liên tiếp 3 năm, nông dân 6 huyện của tỉnh Thừa Thiên kéo nhau rầm rập về kinh thành. Bà con vây quanh tòa Khâm sứ ở cầu Tràng Tiền để đòi giảm sưu, giảm thuế. Nguyễn Tất Thành đã tham gia những cuộc biểu tình này. Thực dân Pháp đã thẳng tay đàn áp những người nông dân hiền lành.

Năm học 1908-1909, Nguyễn Tất Thành và Nguyễn Tất Đạt chuyển sang học trường Quốc Học Huế.

Tuy vốn tiếng Pháp còn ít ỏi, Nguyễn Tất Thành bắt đầu tiếp xúc với sách báo Pháp, bao gồm cả sách báo mượn của những người lính lê dương trong quân đội Pháp.

Sau khi tham gia cuộc biểu tình chống thuế, Nguyễn Tất Thành bắt đầu bị bọn cảnh sát theo dõi và nhà trường để ý đến anh. Bọn quan cai trị thực dân khiển trách Nguyễn Sinh Huy về việc con trai ông phát ngôn chống lại Pháp.

Khoảng hạ tuần tháng 5-1909, Nguyễn Sinh Huy có mặt ở Bình Định để  chấm thi, sau đó, được bổ nhiệm chức đồng phủ lãnh chức Tri huyện Bình Khê.

Cuối năm đó, Nguyễn Tất Thành rời trường Quốc học, theo phụ thân vào Bình Định. Đến Bình khê, Nguyễn Tất Thành được gửi học tiếp chương trình lớp nhất (cours supéricur) với thầy giáo Phạm Ngọc Thọ lúc ấy đang dạy ở truờng tiểu học Pháp – Việt Quy Nhơn. Ông hiểu khả năng và chí hướng người con trai thứ của mình, nên đã tạo điều kiện cho anh tiếp tục học lên.

Tháng 1 – 1910, Nguyễn Tất Thành được một tin không vui, ông Nguyễn Sinh Huy bị “triệu hồi” chức tri huyện Bình Khê, bị triều đình gọi “lại kinh hậu cứu” (trở về kinh đô để xem xét sau).

Với sự giúp đỡ của thầy giáo Phạm Ngọc Thọ, Nguyễn Tất Thành hòan thành chương trình tiểu học vào khoảng tháng 6 – 1910. Trước biến cố mới của gia đình, anh không theo cha trở về Huế mà quyết định đi tiếp xuống phía Nam.

 

Share.

About Author

Leave A Reply